xiangqiplay

棋逢对手

Loading…
Skip to content
Khai cuộc cờ tướng: tên gọi, nước đi đầu và nguyên tắc

Tổng quan khai cuộc cờ tướng theo nước đi đầu: Pháo đầu, Phi tượng, Tiên nhân chỉ lộ, Khởi mã, cùng các thế đáp Bình phong mã, Thuận pháo, Nghịch pháo.

Khai cuộc cờ tướng chia theo nước đi đầu tiên

Khai cuộc cờ tướng dễ nhớ nhất khi chia theo nước đi đầu tiên của bên Đỏ. Nhóm Pháo gồm Pháo đầu, Quá cung pháo và Sĩ giác pháo. Nhóm trầm lặng gồm Phi tượng cục, Tiên nhân chỉ lộ và Khởi mã cục. Phần lớn tên gọi còn lại, như Bình phong mã hay Thuận pháo, mô tả cách bên Đen đáp trả.

Dưới đây là từng hệ thống với tên tiếng Việt, chữ Hán và nước đi cụ thể, kèm bảy nguyên tắc dùng khi ván cờ rời khỏi biến quen.

Đọc tên khai cuộc và ký hiệu nước đi

Tên khai cuộc tiếng Trung thường ghép từ vài thành tố. Một quân cờ: 炮 (Pháo), 马 (Mã), 相 (Tượng), 车 (Xe). Một hành động: 飞 (phi, bay), 起 (khởi, nhấc lên), 过 (quá, vượt qua). Một vị trí: 中 (trung, giữa), 宫 (cung), 河 (hà, sông), 士角 (sĩ giác, góc sĩ). Khai cuộc của Đỏ hay kết thúc bằng chữ 局 (cục), nghĩa là một ván hay một thế trận. Có những tên lại là hình ảnh: 屏风马 ví hai con Mã như hai cánh bình phong, 三步虎 là con hổ vồ mồi sau ba bước, 仙人指路 là cảnh tiên nhân chỉ đường.

Tên đầy đủ thường nối hai bên bằng chữ 对 (đối), nên 中炮对屏风马 đơn giản là Pháo đầu đối Bình phong mã. Ký hiệu nước đi theo cùng một logic. Sách cờ Việt Nam dùng dấu chấm cho tiến (tấn), gạch ngang cho đi ngang (bình) và gạch chéo cho lùi (thoái). Pháo 2 bình 5 viết là P2-5, tức 炮二平五 trong ký hiệu Trung Quốc; Mã 8 tấn 7 viết là M8.7, tức 马8进7. Mỗi bên đánh số lộ từ 1 đến 9 tính từ tay phải của mình, nên lộ giữa luôn là lộ 5. Trong ký hiệu Trung Quốc, Đỏ ghi số bằng chữ Hán, Đen ghi bằng chữ số Ả Rập.

Nhóm khai cuộc bằng Pháo

Pháo đầu (中炮), còn gọi là Trung pháo. Đỏ đưa Pháo vào lộ giữa, thường là P2-5, nhắm thẳng vào Tốt đầu và cung Tướng của Đen. Đây là nước mở màn trực diện nhất, được nghiên cứu kỹ nhất, và phần lớn các thế phòng thủ có tên của Đen ra đời chính là để đối phó với nó.

Quá cung pháo (过宫炮). Đỏ đưa Pháo đi ngang qua trước cung của mình sang lộ sĩ phía bên kia (lộ 4 và lộ 6 là hai lộ sĩ), chẳng hạn P2-6. Ý đồ là né phần lý thuyết dày đặc ở trung lộ và xây dựng thế trận ở cánh mà Pháo vừa sang.

Sĩ giác pháo (士角炮). Đỏ đặt Pháo vào lộ sĩ ngay bên mình, ví dụ P2-4, nơi Pháo đứng ở góc cung. Khai cuộc này linh hoạt và hay chuyển hóa sang các hệ thống khác.

Hệ thống Pháo đầu và tên gọi của quân Xe

Khi đã có Pháo đầu, thế trận của Đỏ thường được gọi theo vị trí của Pháo thứ hai. Ngũ thất pháo (五七炮) đưa Pháo kia sang lộ 7, Ngũ bát pháo (五八炮) để nó ở nhà trên lộ 8, còn Ngũ lục pháo (五六炮) đặt nó ở lộ 6, tức góc sĩ. Cứ đọc là lộ 5 cộng với lộ của Pháo thứ hai, đếm từ phía Đỏ.

Tên quân Xe cũng nói đúng việc Xe làm. Quá hà xa (过河车) là Xe vượt sông sớm, thường bằng X2.6 (车二进六), để ép vào trận Đen; tên này gắn liền với những trận Pháo đầu đối Bình phong mã kinh điển. Tuần hà xa (巡河车) là Xe đứng ở bờ sông bên mình, thường bằng X2.4 (车二进四), vừa giữ sông vừa có thể chuyển sang cánh nào cũng được. Trực xa (直车) là Xe ra thẳng theo một lộ mở, còn Hoành xa (横车) là Xe nhấc lên một bước để đi ngang. Cả hai xuất hiện trong những tên như 顺炮直车对横车, Thuận pháo trực xa đối hoành xa.

Bên Đen đáp lại Pháo đầu thế nào

Bình phong mã (屏风马). Đen đưa cả hai Mã về phía giữa, thường bằng M2.3 và M8.7, để chúng cùng giữ Tốt đầu như hai cánh của tấm bình phong. Đây là thế đáp cổ điển và vững chắc nhất.

Phản cung mã (反宫马). Đen vẫn ra hai Mã nhưng đặt một Pháo vào góc cung, ngay trước một quân Sĩ. Thế trận này hướng tới phản công nhiều hơn là phòng thủ thuần túy.

Đơn đề mã (单提马). Một Mã lên giữa, Mã kia ra lộ biên. Thế này kém đối xứng hơn Bình phong mã và giữ cho trung tâm trận Đen thoáng hơn.

Tam bộ hổ (三步虎). Đen ra một Mã, đưa Pháo ra biên rồi kéo Xe sang lộ mà Pháo vừa bỏ trống, nhờ vậy có một Xe hoạt động chỉ sau vài nước.

Pháo đối Pháo: Thuận pháo và Nghịch pháo

Thuận pháo (顺炮). Đen đáp Pháo đầu bằng một Pháo đầu của mình lấy từ cùng phía bàn cờ: P2-5 được đáp bằng P8-5. Nhìn trên sơ đồ, hai Pháo cùng đi về một hướng. Thế cờ sắc bén và gần như đối xứng.

Nghịch pháo (列炮, đọc theo âm Hán Việt là Liệt pháo). Đen cũng vào Pháo giữa nhưng từ phía còn lại: P2-5 được đáp bằng P2-5, và hai Pháo tiến vào trung lộ theo hai hướng ngược nhau. Hai bên nhắm vào Tốt đầu của nhau ngay từ nước đầu tiên, nên ván cờ mang tính đối công từ rất sớm.

Những nước mở đầu trầm lặng: Tượng, Tốt và Mã

Phi tượng cục (飞相局). Nước đầu của Đỏ đưa Tượng lên điểm giữa trước cung, T3.5 hoặc T7.5 (相三进五, 相七进五). Thế trận chắc chắn, linh hoạt và chưa phải cam kết Pháo.

Tiên nhân chỉ lộ (仙人指路), nghĩa là tiên nhân chỉ đường. Đỏ tiến Binh 3 hoặc Binh 7 một bước, B3.1 hoặc B7.1 (兵三进一, 兵七进一), mở lối cho Mã và thăm dò ý đồ của Đen trước khi chọn kế hoạch. Nước đáp sắc bén nhất của Đen là đặt Pháo lên lộ của con Binh vừa tiến, gọi là Tốt để pháo (卒底炮), chẳng hạn B7.1 được đáp bằng P2-3.

Khởi mã cục (起马局). Đỏ ra Mã trước, M2.3 hoặc M8.7 (马二进三, 马八进七). Nước đi lặng lẽ này có thể chuyển sang rất nhiều hệ thống khác.

Bảy nguyên tắc đáng giá hơn học thuộc

Biết tên giúp nhận ra thế trận, nhưng nguyên tắc mới giúp tìm nước khi ván cờ đi ra ngoài bài bản. Thứ nhất, ra quân nhanh và có mục đích: đưa Xe, Mã, Pháo vào vị trí hoạt động thay vì đi một quân nhiều lần hay đi ăn Tốt biên. Xe là quân mạnh nhất, nên mở đường cho Xe luôn là ưu tiên. Thứ hai, kiểm soát trung tâm, vì quân đứng gần giữa ảnh hưởng tới cả hai cánh.

Thứ ba, giữ an toàn cho Tướng: phối hợp Sĩ Tượng thành một khối phòng thủ, và nhớ luật hai Tướng không được đối mặt trên một lộ trống. Thứ tư, đừng tự tạo điểm yếu quanh cung, như tiến Tốt trước cung vô cớ hay đổi bớt quân phòng thủ. Thứ năm, phối hợp quân: Pháo cần ngòi, Mã cần đường không bị cản chân, Xe cần lộ mở. Thứ sáu, không phí nước. Thứ bảy, có kế hoạch, để mỗi nước đi đều phục vụ một mục tiêu.

Mấy lưu ý khi tra cứu tên khai cuộc

Tên tiếng Anh chưa thống nhất, nên khi hai nguồn có vẻ mâu thuẫn, hãy so chữ Hán. Tên gọi cũng mô tả thế trận hơn là thứ tự nước đi chính xác: một ván có thể đến Bình phong mã hay Tam bộ hổ bằng nhiều đường, và cùng một thế cờ có thể được xếp vào những tên khác nhau tùy nước nào được đi trước.

Tên tiếng Việt cũng không phải lúc nào cũng là âm Hán Việt đọc thẳng từ chữ Hán. Thuận pháo, Bình phong mã, Phi tượng cục đúng là âm Hán Việt của 顺炮, 屏风马, 飞相局. Nhưng 中炮 được gọi phổ biến là Pháo đầu, còn 列炮 thường được gọi là Nghịch pháo dù âm Hán Việt là Liệt pháo.

Luyện khai cuộc trên XiangqiPlay

Mục hướng dẫn khai cuộc trên XiangqiPlay trình bày các hệ thống chính trong bài, từ Pháo đầu, Bình phong mã, Thuận pháo, Nghịch pháo đến Phi tượng, Tiên nhân chỉ lộ và Khởi mã, với nước đi hiện ngay trên bàn cờ. Sau đó, hãy tạo tài khoản miễn phí, đấu với máy ở một trong tám cấp độ từ Easy đến God và tập gọi tên từng khai cuộc khi nó xuất hiện.

Bài này cũng có bằng tiếng Anh: Xiangqi Opening Names: A Bilingual Glossary with Pinyin

Đ

Đội ngũ XiangqiPlay

Ban biên tập XiangqiPlay